Nơi khai sinh những bức tượng đồng nổi tiếng

July 16, 2009

Hai làng đúc đồng Tống Xá và Vạn Điểm (thuộc huyện Ý Yên tỉnh Nam Định) được xem là một trong những cái nôi của nghề đúc đồng ở nước ta. Ngày nay, sản phẩm đúc đồng ở Tống Xá và Vạn Điểm không chỉ làm giàu cho làng, mà còn trở thành niềm tự hào lớn của cả thành Nam nhờ nhiều năm qua, hàng chục công trình-tác phẩm tượng tầm cỡ quốc gia đã được chính những nghệ nhân trong hai ngôi làng này thực hiện bằng chính hoa tay, tâm sức của họ.

www
Những sản phẩm mới ra lò của anh Hạnh.

Chuyện về người đúc tượng đài chiến thắng Điện Biên

Năm 1987, Nguyễn Trọng Hạnh, thôi chức trợ lý giám đốc kiêm tổng kho trưởng Công ty Xuất nhập khẩu Ý Yên (Nam Định), và tổ chức thu nhận công nhân để thành lập Công ty Xây dựng Tiến Thắng. Nhưng rồi mọi kế hoạch đổ vỡ khi anh chạy theo mốt làm tượng Phật giả cổ. Năm 1991, anh bắt đầu mở xưởng ở làng, hễ ở đâu có nghề đúc đồng truyền thống là anh tìm tới, từ Ngũ Xã (Hà Nội) đến Đại Bái (Bắc Ninh), Ba Chè (Thanh Hoá), rồi đến Huế. Anh mua một số tượng mẫu để học kinh nghiệm.

Khi đã luyện được tay nghề làm tượng Phật, anh bắt đầu theo đuổi đúc các bức tượng nghệ thuật. Đến nhà ai chơi, thấy bức tượng đẹp anh đều mượn về đúc thử. Anh tự nguyện đi đúc tượng thuê cho nhiều nhà điêu khắc nổi tiếng như Tạ Quang Bạo, Minh Đỉnh, Tạ Duy Đoán, Lê Liên, Nguyễn Chi Lăng, Kim Xuân… Ngoài ra, anh còn học ở các di tích lịch sử, thấy ở đâu có nhiều đồ thờ đẹp, cổ kính anh đều nghiên cứu cho đến khi thuộc làu từng chi tiết, hoa văn.

Năm 2003, Công ty Mỹ thuật Trung ương giao cho Nguyễn Trọng Hạnh đúc tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ nặng 220 tấn, cao trên 12m. Đối với Hạnh, đó là một niềm vinh dự lớn trong đời. Anh khoá chặt cửa xưởng đúc, suốt 3 tháng liền không ra ngoài. Trên 50 thợ cùng vào cuộc. Tượng quá lớn, không thể đúc khuôn liền, anh nghĩ cách cắt rời khuôn thành 12 khúc rồi đúc lần lượt. Tám lò nung, trên đặt bốn cái nồi nấu đồng lúc nào cũng sôi sùng sục. Hạnh đứng trên giàn giáo chỉ huy. Bốn cần cẩu loại 25 tấn và 50 tấn đặt ở bốn góc khuôn để rót đồng.

Cuối cùng, bức tượng lớn cũng hoàn thiện. Cả một đoàn xe được huy động mới vận chuyển được công trình của Hạnh lên Điện Biên Phủ, dựng trên đỉnh đồi D1 trong dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên.

Và những tác phẩm mang tầm lịch sử, thời đại

Thuở xưa, 2 làng Tống Xá và Vạn Điểm chỉ đúc những mặt hàng đơn giản như đồ thờ cúng, đỉnh đồng, lư hương. Đến nay, sản phẩm của họ ngày càng đa dạng, tinh xảo hơn với những bức tượng Phật, danh nhân, lãnh tụ dân tộc. Đó là những công trình nặng hàng chục, hàng trăm tấn, thể hiện tinh thần, ý nghĩa lịch sử, tầm vóc thời đại…

Cụm tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ cao 12,6m, nặng trên 200 tấn, chỉ là một trong nhiều tác phẩm quy mô lớn của người Ý Yên. Gần đây, các nghệ nhân ở Tống Xá, Vạn Điểm cũng đã đúc rất thành công bức tượng Phật Tổ Như Lai, nặng 30 tấn, hiện toạ lạc trên đỉnh núi Sóc Sơn (Hà Nội) và tượng Tam Thế đặt tại khu du lịch Tràng An (Hoa Lư, Ninh Bình).

Đầu năm 2005, các nghệ nhân đúc đồng Ý Yên cũng đã bắt tay đúc tượng Quốc mẫu Âu Cơ và các vị Lạc tướng, Lạc hầu tại Khu di tích đền Hùng (Phú Thọ) cao 1,65m.

Nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long-Hà Nội, cũng lại chính những nghệ nhân tài ba của Ý Yên được mời đúc bức tượng vua Lý Thái Tổ nặng trên 40 tấn.

Gần đây nhất, cuối tháng 12-2005, để chuẩn bị cho Lễ khai ấn đầu Xuân Bính Tuất, các nghệ nhân đúc đồng tài ba ở làng Tống Xá lại được chọn lựa, giao phó thực hiện đúc tạc 14 bức tượng Hoàng đế nhà Trần (mỗi bức nặng gần 1 tấn), hiện đặt tại đền Trùng Hoa thuộc khu di tích lịch sử-văn hoá đền Trần (ngoại vi TP Nam Định).

Để làm được 14 pho tượng trên, Công ty TNHH cơ khí đúc Thắng Lợi đã huy động tới 50 thanh niên khoẻ mạnh cùng các nghệ nhân thâm niên của làng. Dưới bàn tay điêu luyện, rắn rỏi của các nghệ nhân, những dòng hoạ tiết, hoa văn trên thân 14 bức tượng hiện rõ một cách sinh động, diễn tả đúng sự uy nghi, đường hoàng của một vương triều thịnh trị trong lịch sử, đã 3 lần chiến thắng giặc Nguyên-Mông vào thế kỷ 13.

Sẽ đưa đồ đồng vượt đại dương

Nghề đúc đồng ở Tống Xá, Vạn Điểm gắn với một truyền thuyết. Chuyện rằng, cách đây gần 900 năm, tại Phủ Yên Khánh (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), có ông Nguyễn Chí Thành ngay từ nhỏ đã xuất gia theo hầu Thiền sư Giác Không. Ông là người học rất giỏi, đi nhiều nơi, đem học vấn dạy cho mọi người.

Trong một lần qua Tống Xá, ông đã dạy cho dân làng cách làm khuôn để đúc đồng. Nhiều thế kỷ đã trôi qua, lịch sử cũng nhiều thăng trầm, dâu bể, nhưng nghề đúc đồng vẫn trường tồn như chính chất liệu đanh rắn của nó. Để nhớ công lao của ông, dân làng đã lập đền thờ. Hàng năm, vào giữa tháng 2 âm lịch, làng mở hội để tưởng nhớ công lao người đã truyền nghề, đem lại sự nghiệp cho làng.

Bây giờ trở về Tống Xá, Vạn Điểm, từ tinh mơ đến tận sẩm tối, đâu đâu cũng gặp hình ảnh những bếp lò đỏ rực lửa. Thật không ngờ, nghề đúc đồng đã nhiều vất vả, hiểm nguy lại cần phải thật tỉ mỉ, tinh xảo mới tạo ra được sản phẩm hoàn hảo. Người thợ đúc phải trải qua rất nhiều công đoạn, từ cách chọn đất xây lò, nhóm lửa, chọn đồng đến làm khuôn, nấu chảy các mẻ đồng… Tất cả phải được thực hiện thận trọng, chuẩn xác để đảm bảo cho sản phẩm không bị vênh và co ngót.

Theo nghệ nhân trẻ Nguyễn Trọng Hạnh, công đoạn quan trọng nhất và cũng quyết định nhất trong quá trình sản xuất là lúc rót đồng vào khuôn. Gần như người thợ gửi gắm cả tâm hồn, sức lực của mình vào tác phẩm. Anh bảo, thời khắc ấy, một thói quen đã thành phong tục là người thợ đúc đồng nào cũng phải thành kính đốt một bó nhang xin linh nghiệm trước tổ tiên và cụ tổ nghề, để cầu mong cho sản phẩm làm ra đạt về hình thức, chất lượng, mang màu sắc tốt, có hồn.

Anh Dương Bá Tân, một nghệ nhân trẻ, đã được phong bàn tay vàng ở làng Vạn Điểm, cũng tâm sự: Điều quan trọng và khó khăn đối với người thợ đúc đồng là làm được những sản phẩm có hồn, sinh động. Bởi vậy, phải biết yêu nghề, phải biết thổi cái nhiệt huyết của mình vào sản phẩm và đừng nghĩ rằng làm ra sản phẩm chỉ vì tiền.

Khởi nghiệp từ nguồn vốn chỉ có vài trăm ngàn đồng, nhưng đến nay, Dương Bá Tân đã trở thành chủ một doanh nghiệp chuyên đúc đồng. Sản phẩm đồ đồng giả cổ của công ty anh đã có mặt ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Đầu năm 2006, anh đã chuẩn bị lô hàng khá lớn để xuất khẩu ra nước ngoài. Đưa đồ đồng made in Ý Yên ra nước ngoài là một hoạt động mở đường cho tiềm năng về đúc đồng của Nam Định.

Cũng theo anh Tân, hiện nay ở huyện Ý Yên đã xuất hiện khá nhiều công ty, cơ sở đúc đồng với những cái tên khá nổi danh trong làng đúc đồng cả nước như Công ty TNHH cơ khí đúc Thắng Lợi, Công ty Tân Tiến, cơ sở đúc Vũ Duy Thuấn…

(Theo Hà Nội Mới)





DỊCH HAI CHỮ VĂN MIẾU RA TIẾNG TÂY

July 16, 2009

VanMieu-little0910
Khuê Văn Các trong khuông viên Văn Miếu (ảnh: little0910)

Nếu muốn trang bị một tri thức tối thiếu về Văn Miếu- Quốc Tử Giám, cái tên đã gắn liền với những chứng tích lịch sử văn hóa và giáo dục truyền thống của Việt Nam thời trung đại, thì có lẽ điều đầu tiên ta cần biết là ý nghĩa của tên gọi này. Có gì đâu: Văn là văn chương, văn học; Miếu là nơi thờ cúng, đền thờ. Vậy Văn miếu nghĩa là miếu thờ văn chương (hay văn học)! Cứ luận thế đương nhiên sẽ dẫn ta đến việc dịch hai chữ Văn miếu sang tiếng Tây là The Temple of Literature (Anh) và le Temple de la Littérature (Pháp), y chang cách dịch trong tấm biển đồng lược giới về Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội hiện chôn ngay trước cổng khu di tích, cũng như trong nhiều sách vở tài liệu giới thiệu cho du khách nước ngoài về khu di tích lịch sử văn hóa này. Cách dịch trên thật đơn giản, dễ hiểu, dễ giải thích. Chỉ có điều là sai!
Sai thế nào? Trước hết xin điểm dịch một số tư liệu sách vở đáng tin cậy của Trung Quốc, dẫn dụng các mục từ liên quan đến hai chữ Văn miếu. Để giản tiện, xin lược đi phần phiên âm Hán Việt.
Hán ngữ đại từ điển (La Trúc Phong chủ biên, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1997) thu thập 11 nghĩa của chữ Miếu, trong đó nghĩa đầu tiên cũng là nghĩa mà chúng ta đang bàn tới: “Cái nhà thời xưa dùng để thờ cúng thần vị tổ tiên” (tập thượng, tr. 1982). “Văn miếu: Miếu thờ Khổng tử. Triều Đường phong Khổng tử làm Văn Tuyên Vương, gọi miếu thờ ông là Văn Tuyên Vương miếu. Từ đời Nguyên – Minh về sau gọi tắt là Văn miếu” (tập trung, tr. 4034).
Hán – Anh đại từ điển (Chinese – English Dictionary) (Ngô Quang Hoa chủ biên, Thượng Hải Giao thông Đại học xuất bản xã, 1999, tập I, tr. 1771) cắt nghĩa chữ miếu bằng tiếng Trung Quốc là “Nơi khi xưa dùng để thờ cúng thần vị tổ tông, hoặc thần phật, danh nhân lịch sử”; và dịch ra tiếng Anh là “temple; shrine; joss house”. Ngay tại mục từ này cũng giải nghĩa: “Khổng miếu: a temple to Confucius” (Khổng miếu: miếu thờ Khổng tử).
Từ nguyên (Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1998, tr. 737) ghi: “Văn miếu: miếu thờ Khổng tử. Đời Đường, niên hiệu Khai Nguyên, năm thứ hai mươi bảy [739] phong Khổng tử làm Văn Tuyên Vương, gọi Khổng miếu là Văn Tuyên Vương miếu. […] Từ đời Nguyên – Minh về sau thường gọi là Văn miếu”.
Từ hải (Hạ Chính Nông chủ biên, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1989, tr. 1732) ghi: “Văn miếu: Tên gọi khác của Khổng miếu. Thời Đường Huyền Tông, năm Khai Nguyên thứ hai mươi bảy (Công Nguyên 739) phong Khổng tử làm Văn Tuyên Vương, nhân đó gọi Khổng miếu là Văn Tuyên Vương miếu, từ đời Minh về sau gọi Khổng miếu là Văn miếu để đối ứng với Vũ miếu (miếu thờ Quan Vũ, Nhạc Phi)” (hết trích). Ta biết rằng thời Minh – Thanh gọi miếu thờ Quan Vũ là Vũ miếu (hai chữ Vũ viết mặt chữ Hán khác nhau, Vũ trong Quan Vũ nghĩa là cái lông, Vũ trong Vũ miếu nghĩa là võ nghệ), đến thời Dân Quốc phối thờ Quan Vũ và Nhạc Phi chung một miếu, vẫn gọi là Vũ miếu.
Nhân đây thiết tưởng cũng nên giãi bày thêm đôi điều sở đắc, một về “chữ” Confucius, một về “nghĩa” của chữ văn.
Thứ nhất là chữ Tây Confucius, chữ này vốn xuất phát từ âm đọc ba chữ Hán “Khổng phu tử” (Thầy Khổng), âm tiếng phổ thông hiện đại ngày nay đọc là /Kongfuzi/ ghi theo lối pinyin (cách chú âm chữ Hán bằng mẫu tự Latin, được chính thức sử dụng từ năm 1958 tại Trung Quốc, ở đây không ghi thanh điệu), ta đọc na ná như “k’ủng-phu-chử” trong tiếng Việt (với âm /k’/ bật hơi). Người phương Tây do không thể có hệ thống ngữ âm tương ứng tuyệt đối để biểu đạt ba âm tiết ấy, nên họ đã “Tây hóa” nó qua cách ghi “Con – fu – cius” (như trong Anh ngữ), nghĩa là Khổng tử. Rồi từ đó, căn cứ theo các phương thức tạo từ mới, một loạt từ phái sinh đã xuất hiện: Confucianism (Nho giáo, Khổng học, Khổng giáo, đạo Khổng, đạo Nho); Confucian hoặc Confucianist (Nho gia, nhà Nho, người theo đạo Khổng; thuộc về đạo Khổng/Nho); Neo-confucianism: tân Khổng giáo, tân Nho giáo. Tiếng Pháp cũng có những từ tương ứng: Confucius, Confucianisme, Confucianiste, Néoconfucianisme.
Thứ hai là hàm nghĩa của chữ Văn trong Văn Tuyên Vương. Khổng tử được triều Đường phong là Văn Tuyên Vương = Người có tước Vương, có công tuyên truyền cái văn. Vậy Văn có phải là Literature và Littérature như cách dịch tên gọi Văn miếu đang dùng ở ta? Xin thưa: không! Chữ Văn này có nội hàm rất rộng, bắt nguồn từ một ý trong sách Luận ngữ, thiên Tử hãn: “Khổng tử bị người đất Khuông làm cho sợ hãi. Ngài nói: Văn vương đã mất, cái “văn” này chẳng phải ở trong ta hay sao? Nếu trời định làm mất cái “văn” ấy thì kẻ chết sau này không được dự vào cái “văn” ấy. Nếu trời chưa định làm mất nó thì người Khuông phỏng có làm gì nổi ta?”. Chữ “văn” trong đoạn trên trỏ toàn bộ “lễ nhạc giáo hóa, điển chương chế độ” (Hán ngữ đại từ điển, đã dẫn, tập trung, tr. 3832), tức tất thảy những hiến chương pháp độ được sử dụng để cai trị xã hội, vậy thì nội hàm của chữ Văn này rộng hơn hẳn so với các từ Literature và Littérature trong tiếng Anh và tiếng Pháp vốn chỉ mang những nghĩa hẹp hơn: văn chương, văn học, văn giới, tư liệu (tham khảo), ấn phẩm, nhạc tập, học vấn… (Literature và Littérature đều bắt nguồn từ litera tiếng Latin, nghĩa gốc là văn tự – xem Webster’s New Dictionary, Promotional Sales Books, USA, 1994, tr. 228). Sau khi Chu công Đán mất, Khổng tử được coi là người truyền bá cái Văn ấy, nên ông được Đường Huyền Tông phong làm “Văn Tuyên Vương”. Điều này cũng minh chứng rằng giả như theo lối “trực dịch” (word by word, mot à mot) mà dịch Văn miếu thành The Temple of Literature và le Temple de la Littérature thì vô hình trung đã thu hẹp nội hàm vốn rất rộng của khái niệm Văn như vừa nói. Ngay tại Đại Bái đường trong Văn miếu Hà Nội hiện vẫn còn treo bức hoành phi đề ba chữ “Phúc tư văn” (cái “văn” này phúc thay!).
Đến đây có thể thấy:
1. Miếu là nơi/nhà thờ cúng thần vị tổ tông, hoặc thần phật, hay danh nhân lịch sử. Khổng tử là một “thánh nhân” (theo lối gọi của nhà Nho truyền thống), một danh nhân lịch sử, một nhân vật tối quan trọng đối với văn hóa truyền thống Trung Hoa, thậm chí cả với các nước khu vực “đồng văn”, vì vậy ông hoàn toàn xứng đáng được đưa vào thờ phụng trong miếu nhằm biểu chương cái đạo của “thánh nhân”.
2. Năm Khai Nguyên thứ hai mươi bảy đời Đường Minh Hoàng (739), Khổng tử được phong là Văn Tuyên Vương, nên miếu thờ ông cũng gọi là Văn Tuyên Vương miếu. Đến khoảng thời Nguyên – Minh, vừa để gọi tắt, vừa để đối trọng với Vũ miếu (Văn – Vũ), nên Văn Tuyên Vương miếu được gọi tắt là Văn miếu.
Như vậy, hai chữ Văn miếu ở dạng đầy đủ phải là Văn Tuyên Vương miếu (Miếu thờ ông tước Vương, có công tuyên truyền cái “văn” – tức Khổng tử), đây là những tên gọi khác của Khổng miếu (miếu thờ Khổng tử). Nếu buộc phải dịch tên gọi Văn miếu thì thiết tưởng nên dùng chữ Anh The Temple of Confucius, hoặc “Confucius temple” (Hán – Anh đại từ điển, đã dẫn, tr. 2671, in nhầm là Confucious temple), hay tiếng Pháp là Temple de Confucius, giống như cách hiểu và dịch hai chữ Khổng miếu. Hiện ở Đài Loan cũng dùng tên gọi Khổng miếu, hẳn là để tránh việc hiểu nhầm khái niệm (Văn) như ở ta.
Văn miếu Hà Nội là một sản phẩm văn hóa của Việt Nam. Đã là một sản phẩm văn hóa của dân tộc thì trộm nghĩ, ta nên giữ tên gọi Văn miếu (Van Mieu), không nhất thiết cứ hễ thấy bằng tiếng Việt là nhăm nhe dịch sang tiếng này tiếng nọ, hoặc giả chỉ nên đóng mở ngoặc đơn mà cắt nghĩa bằng ngoại văn ở lần đầu xuất hiện khái niệm mà thôi, còn ông Tây bà đầm nào có nhã hứng tìm tòi thêm thì khắc tự mày mò. Kinh nghiệm cho thấy, nếu không giữ tên gọi Ao Dai, mà cứ hăm hở dịch thành Vietnamese (long) dress hay gì gì đi nữa, thì cái áo dài truyền thống của các bà các chị nhà ta hẳn đến bây giờ vẫn còn nằm ngoài vùng hiểu biết của tứ hải huynh đệ.

Tương Quân
(Theo Tạp chí Tia Sáng)


“Vua” cổ vật hào hiệp

July 16, 2009

Giadinh.net – Làng cổ ngoạn đang loạn vì quá nhiều “vua”: Nào là “vua” đồ cổ Hà thành; “vua” bình vôi; “vua” điếu bát… Nhưng có một vị “vua” mà dường như được giới chơi cổ vật thừa nhận, đó là “Vua từ thiện” cổ vật Đoàn Anh Tuấn – GĐ Trung tâm Unesco Nghiên cứu, bảo tồn cổ vật Việt Nam – người hiến tặng cổ vật nhiều nhất hiện nay.

Bán nhà chơi đồ cổ!

Dáng người thấp, râu dài, mái tóc muối tiêu búi tó sau gáy, Đoàn Anh Tuấn ngồi giữa căn phòng ngập cổ vật, khiến nhiều người liên tưởng đến ông đồ “gàn” thế kỷ trước, mà cái máu mê đồ cổ đã ngấm vào dòng tộc nhà ông đồ này từ thời ông cố nội. Ba đời định cư ở xứ kinh kỳ, dân Hà Nội gốc ở 36 phố phường thuở trước đều biết tiếng dòng tộc họ Đoàn vì cái thú mê đồ cổ.

Đoàn Anh Tuấn ngồi giữa căn phòng ngập cổ vật.

Đến đời Tuấn, đồ cổ “ám” nặng đến nỗi người thân cũng gọi là Tuấn “hâm”, Tuấn “gàn”… Gàn đến mức mà năm 1998, khi Nhà nước ban hành Luật Di sản thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đồ cổ, gã vội bán ngôi nhà mặt phố Trương Định dồn tiền mua cổ vật. Thậm chí, gã từng hành nghề bơm vá, sửa xe đạp, mò lên các bãi vàng để kiếm tiền mua cổ vật.

Truân chuyên là thế, nhưng nếu tận mắt chứng kiến cổ vật được bày khắp nhà mới biết trời chẳng phụ lòng gã. Cổ vật được gã bày xếp theo niên đại, lâu đời nhất chính là chiếc tủ bày các công cụ lao động sản xuất, vũ khí của người xưa; kế đến là các trang sức của nền văn hoá Đông Sơn; nhà bằng đất nung từ thời kỳ đầu công nguyên; bình triều đại Lý, Trần với những ấm rượu gốm men trắng thế kỷ 13 – 14… Những chiếc trống đồng Đông Sơn, ấm rượu đồng rèn đầu rùa thế kỷ I – III; tượng Quan âm đồng thế kỷ 18… được chất đầy trong căn phòng ngót nghét trăm mét vuông trên tầng 2. Các loại bình gốm, âu, ang… không còn chỗ để, phải xếp trên các bậc thang. Bộ sưu tập vũ khí cổ như kiếm sắt cán đồng thế kỷ III – I trước Công Nguyên; kiếm lưỡi sắt cán đồng thế kỷ V – III trước Công Nguyên… treo đầy tường.

Vào nhà gã, nhìn cổ vật chen chúc, ken đặc, ai cũng chắc mẩm gã này giầu lắm, “lộc giời” từ cổ vật sẽ khiến gã “nứt đố đổ vách”!. Nhưng gã lắc đầu bảo: “Nhầm to. Đồ cổ ngốn cả gia sản của tôi nhưng đã sinh lời được gì đâu. Tôi sống được là nhờ nghề chế tác đá quý và làm đồ gỗ giả cổ”.

Một số cổ vật trong bộ sưu tập của Đoàn Anh Tuấn.

“Dị ứng” cổ vật trục vớt…

Số cổ vật của Đoàn Anh Tuấn có đếm, có diễn giải cả ngày cũng không hết. Anh mua đồ cổ chỉ để chơi và hiến tặng chứ chẳng bao giờ tính đến chuyện lời lỗ. Dường như giời định gã có duyên với cổ vật, nên nhiều khi gã mua được những món cổ vật quý với giá rất bèo. Như chiếc trâm cài tóc có niên đại tới 2.500 năm, gã chỉ mất 200.000 đồng, trong khi có người phải bỏ ra vài triệu đồng mới mua nổi.
Ngược lại, nhiều khi lão cũng “nghiến răng” bỏ tiền mua bằng được món cổ vật với giá “lưng chừng trời”, như chiếc vò đựng ngũ cốc thời Bắc thuộc. Chiếc vò này được đem đấu giá với giá khởi điểm chỉ có 100.000 đồng, gã tức khí khi thấy cổ vật lâu đời bị định giá thấp lè tè liền xướng luôn mức giá 4 triệu đồng. Qua vài lần trả giả, cuối cùng Tuấn “gàn” cũng sở hữu chiếc vò đó với giá 1.200 USD. Chỉ vì gã không muốn chiếc vò đó bị các nhà buôn tuồn ra nước ngoài nên dù trong túi lúc ấy chẳng đủ đã đành phải gom tiền từ bạn bè.

Máu cổ vật là vậy, nhưng Đoàn Anh Tuấn không bao giờ “chơi” đồ trục vớt. Gã bảo: “Tôi không thích cái thứ đồ chất đống trên thuyền đem đi bán, gặp tai nạn bị chìm nghỉm dưới đáy sông, đáy biển. Thứ đó chỉ là hàng hoá mới ra lò, chưa có chủ sở hữu, chưa qua tay người sử dụng”. Gã cũng “kỵ” cổ vật Trung Quốc, chỉ thích chơi những thứ đồ mà các cụ người Việt từng dùng. Gã bảo, có người cứ lao vào mua những cổ vật đắt tiền nhưng đến khi hỏi của ai thì mới lòi ra là của nước ngoài. Như vậy thật “vớ vẩn”, vì cổ vật của đất nước thì không ca ngợi, sưu tập, giữ gìn lại đi ca ngợi, sưu tập cái của nước khác.

Những cổ vật được trưng bày một cách gọn gàng ngăn nắp.

Muốn mọi người được “sướng” cái “sướng” của mình!

Sở hữu hàng ngàn, hàng vạn cổ vật và cũng đã hiến tặng cho các bảo tàng chừng số đó món đồ quý hiếm.Được phần đông giới chơi thừa nhận là một trong những người có nhiều cổ vật nhất, nhưng Đoàn Anh Tuấn chưa bao giờ nhận mình là “vua”. Suốt cuộc nói chuyện, gã luôn tránh nói về mình, gã chỉ sợ người ta hiểu lầm gã thích “phô”. Với gã, thú chơi này cốt là để dưỡng tâm chứ không phải dưỡng trí, gã tự nhận mình không phải là nhà buôn, nên không có món cổ vật nào gã thích nhất cả.
Trong khi thiên hạ đua nhau thích những món đồ cổ có giá trị, thì gã lại chỉ thích làm sao để nhiều người hiểu biết về cổ vật; và nhận thức về nó thật trong sáng, sạch sẽ chứ không phải là nghĩ nó bao nhiêu tiền, mang lại lợi nhuận thế nào. Với Tuấn “gàn”, cổ vật chính là vật chứng lịch sử, phải mang lại lợi ích văn hoá cho cộng đồng, mới là chơi cổ vật, chứ không phải cứ lao vào những món đắt tiền.
Vì thế, gã liên tục mua cổ vật rồi liên tục hiến tặng lại cho các bảo tàng. “Nhờ bảo tàng giữ hộ thì sẽ nhiều người được “sướng” cái sướng của mình, vui cái “vui” của mình. Qua các hiện vật cổ đó sẽ có thêm nhiều người biết thế nào là cổ vật để nếu có lần nào vô tình đào vườn thấy cái ấm sứt cổ trong lòng đất thì cũng biết đó là đồ cổ mà giữ gìn”, gã “gàn” tâm sự.
Mà những cổ vật gã tặng cho các bảo tàng không phải loại xoàng xĩnh, như bộ hai chiếc trống Đồng Đông Sơn có niên đại 2.500 năm ở bảo tàng lịch sử. Cũng tại bảo tàng này, gã đang trưng bày 10 trống binh khí, 93 cổ vật quý hiếm ở Bảo tàng Thái Bình, 105 đồ từ thời Hậu đồ đá, thời Đông Sơn và thời nhà Trần ở bảo tàng Quảng Ninh, 50 hiện vật gồm thạp gốm hoa nâu, thạp gốm men ngà, thạp gốm men trắng xanh, hũ gốm hoa nâu, chậu, vò, gốm men các loại từ thế kỷ XIII đến thế kỷ thứ XIX và cả một chiếc sanh đồng quân dụng thời Trần lần đầu tiên được tìm thấy vừa được gã hiến tặng tại Bảo tàng Nam Định…
Đổi lại, gã được tặng vài chiếc bằng khen và vài trăm ngàn đồng. Ấy thế mà thiên hạ vẫn có kẻ “ác khẩu” bảo những người hiến tặng cổ vật nhất định vì mục đích nào đó. Dù vậy gã vẫn quyết làm việc mình thích…

Hạnh Vân


Cao Sơn Lưu Thủy Khúc

July 16, 2009

“Cao sơn lưu thủy” gắn liền với điển tích Sở Bá Nha- Chung Tử Kì. Tương truyền, hơn hai nghìn năm trước Bá Nha hay đàn bản “Cao sơn lưu thủy”, nhưng chỉ có một mình Chung Tử Kì biết thưởng thức. Một lần Bá Nha gảy đàn, chí tại non cao, Tử Kì liền bảo “Thiện tại hồ cổ cầm, nguy nguy hồ nhược Thái Sơn” (Đánh đàn hay thay, vòi vọi tựa Thái Sơn). Bá Nha chí tại vực sâu, Tử Kì nhận ngay ra rằng “Đăng đăng hồ nhược lưu thủy” (Cuồn cuộn như nước chảy).

Khi Tử Kì lâm bệnh chết, Bá Nha chỉ gẩy đàn thêm một lần duy nhất trước mộ người tri âm rồi đập đàn vào tảng đá, không bao giờ cầm đến cây đàn nữa.

Bản “Cao sơn lưu thủy” lưu truyền ngày nay chủ yếu là bản do Xuyên Phái đời Thanh gia công và phát triển, được Đường Di Minh đời nhà Thanh ghi lại trong “Thiên văn các cầm phổ” (năm 1876). Ông đã hết sức phát huy các thủ pháp cổn, phất, xước, chú, khiến hình tượng núi cao, nước chảy thêm rạng rỡ, nên mới có danh xưng “Thất thập nhị cổn phất lưu thủy”.

Bản nhạc này được phân thành 9 đoạn và một vĩ thanh, cụ thể là 4 bộ phận lớn: khởi, thừa, chuyển hợp. Phần khởi (đoạn 1 đến đoạn 3), thông qua giai điệu thâm trầm, hồn hậu, uyển chuyển và âm bội sáng rõ, đã biểu hiện được những cảnh tượng kì diệu của núi cao trùng điệp, suối chảy khe sâu một cách rõ ràng, tươi sáng.

Phần thừa (4 và 5), dàn trải không dứt, giai điệu đậm màu sắc ca hát, giống như những giọt nước chảy trong khe suối tập hợp thành dòng nước mạnh. Phần chuyển (6 và 7), nhờ vào khúc điệu có thứ tự bội âm đi xuống và âm giới của 5 thanh đi lên, âm hóa với xung động mạnh, kết hợp với các thủ pháp cổn, phất, như một dòng thác chảy ào ạt xuống, dồn vào sông biển cuộn trào sóng lớn. Phần hợp (đoạn 8 và vĩ thanh), vận dụng một phần âm điệu của phần thừa và phần chuyển tạo thành hiệu quả hô ứng, tạo nên dư âm như sóng trào trên sông biển, khiến người nghe có thể cảm nhận dư vị hết sức ngỡ ngàng và thú vị.

Thời nhà Đường, “Cao sơn lưu thủy” phân ra thành hai khúc, không phân đoạn. Đến thời Tống lại phân cao sơn thành 4 đoạn, lưu thủy thành 8 đoạn, thiên về lưu thủy, khiến cho người nghe có cảm giác biển lớn đang vỗ sóng bên tai, âm vang mãi không thôi.

Lưu thủy hữu tình

Lắng nghe khúc nhạc, nếu thật sự không nhập tâm và tinh tế thì chúng ta không thể thấy hết cái hay cái đẹp của nó.

Khúc nhạc bắt đầu bằng những thanh âm nhẹ nhàng và chậm rãi. Tiếng đàn đưa ta đến một không gian cao, rộng và thoáng đãng và mơ màng. Ta như thấy lại hình ảnh Bá Nha năm nào đang đưa người theo điệu nhạc, đôi mắt nhắm lại và mơ về một nơi xa nào đó. Chỉ có đôi tay người nghệ sĩ lướt nhẹ trên phím đàn khi trầm khi bổng, dặt dìu, êm ái. Xung quanh là con sông chảy hiền hòa ôm vào lòng nó những dãy núi mù sương… Có lẽ đây là không gian mà ta gọi là “Cao sơn”.

Rồi bỗng nhiên, nhịp đàn nhanh dần, réo rắt những dịp dồn dập nhau. Tưởng chừng như cả trái tim người nghệ sĩ cũng rung lên với nhịp thở gấp gáp. Ta lại như thấy mình giữa một khung cảnh sơn thủy hữu tình, một ngọn núi xa xa, một dòng thác chảy mạnh mẽ. Dòng nước cuộn sóng tung bọt trắng xóa. Con nước chảy từ trên cao hòa mình vào dòng nước lớn. Khung cảnh ấy có thể hình dung là “lưu thủy”. Kết lại bản nhạc vẫn là những điệu âm réo rắt rồi nhỏ dần nhỏ dần như dòng chảy đang dần về một nơi xa lắm.

Bản nhạc không chỉ hay ở giai điệu mà còn đẹp như một bức tranh hữu tình. Đôi khi giữa dòng đời hối hả, dành ra một khoảng để lắng nghe “Cao sơn lưu thủy”, ta lại thấy tiếng đàn như rót vào tim những thanh âm trong trẻo nhất. Một chút gì đó hoàn toàn thanh khiết không vướng bụi trần. Đó là tinh hoa của trời đất, của tình người tri cố, của những tâm hồn cô độc tìm thấy nhau giữa cuộc đời nhiều oan trái. Để rồi mỗi sáng thức dậy sẽ lại thấy lòng mình thanh thản và nhẹ tênh. Và lại thấy như có tiếng đàn vẫn réo rắt, du dương ngay trong chính tầm hồn mình…

123

Cao sơn lưu thuỷ – 高山流水

Cầm phổ sớm nhất của nhạc khúc này được ghi trong Thần kỳ bí phổ. Giải thích về nhạc khúc này sách viết: “Cao sơn lưu thuỷ ban đầu chỉ có một đoạn, đến đời Đường nó được phân thành hai khúc nhạc giống nhau, không phân đoạn, đến đời Tống người ta mới phân Cao sơn thành 4 đoạn, lưu thuỷ thành 8 đoạn”.
Cao sơn lưu thuỷ gắn liền với một giai thoại về mối tình tri âm tri kỉ giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ. Ngay từ thời Xuân Thu Chiến Quốc( thế kỉ 4 tr.CN), Liệt Ngự Khấu, người nước Trịnh, trong Thang vấn, sách Liệt Tử chép: “ Bá Nha chơi đàn tuyệt hay, Chung Tử Kỳ nghe đàn càng giỏi. Bá Nha chơi đàn, chí tại núi cao, Chung Tử Kỳ nói: ‘Hay thay! vời vợi tựa Thái sơn’. Chí để nơi dòng nước chảy, Chung Tử Kỳ nói: ‘Hay thay! mênh mang như sông nước’. Bất luận là chí tại cao sơn hay chí tại lưu thuỷ, Bá Nha trong mỗi khúc nhạc đều biểu hiện chủ đề hoặc ư tưởng của mình, nhờ đó Chung Tử Kỳ có thể lĩnh hội được ư tứ đó. Nghe nhạc vốn dĩ là cảm cái khúc ư mà người chơi gửi gắm, đạo lư này vốn dĩ đă có từ ngàn xưa vậy.

123

Một ngày, Bá Nha cùng Chung Tử Kỳ chơi núi Thái sơn, gặp trời mưa to, hai người dừng lại dưới một mỏm núi đá. Bá Nha trong tâm phiền muộn bèn tấu một khúc nhạc. Khúc nhạc ban đầu biểu hiện cảnh mưa rơi xuống một dòng suối trên núi, tiếp đó khúc nhạc mô phỏng âm thanh của nước lên cuồn cuộn cùng đất đá đổ nát. Tấu xong, Chung Tử Kỳ ngay lập tức nói ra được ư tứ của mỗi bài. Bá Nha thấy thế bỏ đàn mà rằng: “ Giỏi thay! Các hạ có thể nghe thấu cái chí thú trong khúc nhạc, ư của các hạ cũng là ư của ta vậy”. Từ đó hai người trở thành một cặp nhân sinh tri kỷ mà đời sau vẫn ca ngợi. Nhưng mà sách Liệt Tử hoàn toàn không nói tới chuyện Bá Nha, sau khi Chung Tử kỳ mất, không bao giờ chơi đàn nữa.
Vào khoảng thế kỷ thứ III tr.CN sách Lă Thị Xuân Thu, thiên Bản vị cũng ghi lại câu chuyện tương tự: “Bá Nha chơi đàn, Chung Tử Kỳ nghe. Đàn chơi mà chí để tại Thái sơn, Chung Tử Kỳ nói: ‘Hay thay tiếng đàn! Cao cao như núi Thái Sơn. Khi chí để nơi dòng nước chảy, Chung Tử Kỳ nói: ‘Hay thay tiếng đàn! Mênh mang như nước chảy. Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha quẳng đàn, dứt dây đến tận cuối đời không chơi đàn; từ đó trên nhân thế không có ai có thể gọi là cầm giả nữa”. Lă Thị Xuân Thu nhìn chung giống với sách Liệt Tử, chỉ khác kết cục này: sau Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha đến cuối đời không chơi đàn nữa.
Lă Thị Xuân Thu tuy không phải là một cuốn sử có độ xác tín cao, nhưng cùng với sách Liệt Tử trước đó thì nội dung không phải là hoàn toàn vô căn cứ. Vì chuyện Bá Nha sau khi Tử Kỳ mất không chơi đàn nữa nên đã có một câu chuyện đẹp được lưu truyền (tích “tri âm”). Bá Nha lúc sinh thời là một người nổi tiếng. Tuân Huống trong thiên Khuyến học cũng từng đề cập đến Bá Nha: “Cổ nhân chơi đàn thì cá cũng phải ngoi lên nghe, Bá Nha chơi đàn làm sáu ngựa dừng ăn”. Tuy lời lẽ có vẻ khoa trương nhưng tài năng của một đại âm nhạc gia như Bá Nha là không thể nghi ngờ.
Sau sách Liệt Tử và Lă Thị Xuân Thu, đời Tây Hán có Hàn Thi ngoại truyện, Hoài Nam Tử, Thuyết uyển, Đông Hán có Phong tục thông nghĩa, Cầm tháo, Âm phổ giải đề,… đều viện dẫn câu chuyện này. Trong các tác phẩm này đều miêu tả Bá Nha với nội dung hết sức phong phú. Thí dụ như Sái Ung đời Đông Hán trong sách Cầm Tháo viết câu chuyện Bá Nha bái sư học thủ pháp “di tình” của cổ cầm. Đến đời nhà Minh Phùng Mộng Long trong phần khai quyển thiên thứ nhất là “Du Bá Nha suất cầm tạ tri âm”. Trong thiên tiểu thuyết này Bá Nha trở thành nhạc quan Du Bá Nha còn Chung Tử Kỳ trở thành tiều phu ở đất Hán Dương. Từ một điển tích thời cổ hơn trăm chữ đến đây từ nhân vật, địa điểm, đến tình tiết nhất nhất đều đă trở thành một thoại bản tiểu thuyết.
Cao sơn lưu thuỷ luôn gắn liền với thiên cổ giai thoại về Bá Nha và Chung Tử Kỳ. Nó có thể lưu truyền hơn hai nghìn năm cũng là nhờ nó đă dung hội được những phẩm chất tinh túy của văn hoá Trung Hoa. Đoạn giai thoại kể trên có thể nói đã thể hiện được đầy đủ nhất văn hoá tinh thần về “thiên nhân hợp nhất, vật ngă lưỡng vong” của người Trung Quốc cổ đại. Vào đời Minh, Chu Quyền Thành trong sách Thần kỳ bí phổ đối với câu chuyện này đă giải thích rất kỹ: “ Hai khúc cao sơn, lưu thuỷ vốn chỉ là một khúc. Ban đầu chí để nơi núi cao, nói ư người nhân vui ở núi. Sau đó chí để tại dòng nước chảy, nói ư kẻ trí vui ở sông nước. “Nhân giả lạc sơn, trí giả lạc thuỷ” Cao sơn lưu thuỷ đă ẩn chứa sự mênh mang của trời đất cũng như hồn cốt của sông núi, có thể nói đă đạt được cảnh giới tối cao của việc biểu hiện những chủ đề cổ nhạc Trung Quốc. Nhưng mà khúc nhạc Cao sơn lưu thuỷ của Bá Nha hoàn toàn không được lưu truyền hậu thế, người đời sau không hề được lĩnh hội cách xử lư tuyệt diệu của Bá Nha trong khúc nhạc. Sở dĩ người đời sau không ngớt lưu truyền câu chuyện vì đằng sau Cao sơn lưu thuỷ hoàn toàn là dụng tâm mà hướng đến khúc nhạc.
Giai thoại này được lưu truyền nguyên nhân trực tiếp là vì mối tình tri âm, tương tri, tương giao giữa hai người. Tri âm đă mất, Bá Nha đương nhiên đoạn huyền tuyệt âm. Nhạc Phi trong Tiểu trùng san chỉ một câu “Người tri âm thực ít, đàn không đứt thì biết lấy ai nghe” đă phản ánh chính xác tâm trạng của Bá Nha lúc bấy giờ. Việc quẳng đàn của Bá Nha thể hiện rất rõ chí của ông ta. Thứ nhất là việc làm thể hiện sự tôn trọng đối với người bạn đă mất, thứ nữa là vì tuyệt học của chính mình người đời không ai có khả năng lĩnh hội được nên biểu hiện sự buồn khổ và cô độc. Như thế thì Bá Nha tất là người thị tài ngạo vật, trác tuyệt khác người, khúc nhạc của Bá Nha là cao khúc nhưng cũng vì thế mà cô độc, phàm phu tục tử không thể lĩnh hội được sự linh diệu của nhạc khúc. Bá Nha đã cảm thấy thấu đáo sự cô độc, phát hiện ra rằng tri âm nơi trần thế thực khó tìm mà nhất thời cảm khái.
Cao sơn lưu thuỷ sở dĩ được các chư tử thời Xuân thu chiến Quốc nhiều lần ghi chép là vì bối cảnh của văn hoá sĩ đương thời. Thời Tiên Tần là giai đoạn bách gia tranh minh, nhân tài rất nhiều. Rất nhiều kẻ sĩ thời đó quan niệm rất đơn giản, hoàn toàn không nhất thiết phải trung với nước chư hầu mình sinh sống. Việc lưu động kẻ sĩ giữa các nước nhiều không kể xiết, họ luôn mong ngóng sự tri ngộ của bậc minh chủ. Họ hy vọng có thể gặp được người tri âm, có thể hiểu được mộng vương công chư hầu của mình, từ đó mà phát huy sở học của mình. Đó chính là mơ ước suốt mấy ngàn năm của người đọc sách. Nhưng mà có thế đạt được mục tiêu ấy có mấy người? Hầu hết họ đều một đời uổng phí tài năng không gặp được tri âm mà hoàn toàn vô danh, cũng có người ẩn thân nơi chợ nghèo, người thì đợi già chốn sơn lâm. Từ đó có thể thấy, Cao sơn lưu thuỷ được lưu truyền rất rộng thời Tiên Tần chính là vì điển tích phía sau nó ngụ ư một cuộc gặp gỡ kỳ diệu của đời người, cũng là sự bộc lộ sự oán trách thế nhân bạc bẽo, ngu dốt không biết đến nhân tài. Sở dĩ hàng trăm nghìn năm tới nó vẫn sẽ khơi gợi được những tiếng nói chung của không ít người cũng chính là ở những tình cảm ẩn chứa trong đó.

PHỤ LỤC: TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI THẬP ĐẠI DANH KHÚC

Cổ nhạc Trung Quốc lưu truyền mười nhạc khúc nổi tiếng được xưng tụng “ Trung Hoa thập đại danh khúc”. Mười nhạc khúc đó bao gồm:

1. Cao sơn lưu thuỷ
2. Quảng lăng tán
3. Bình sa lạc nhạn
4. Mai hoa tam lộng
5. Thập diện mai phục
6. Tịch dương tiêu cổ
7. Ngư tiều vấn đáp
8. Hồ gia thập bát phách
9. Hán cung thu nguyệt
10.Dương xuân bạch tuyết.
Đằng sau mỗi nhạc khúc là những giai thoại thú vị. Nghe nhạc khúc mà không biết nguyên nhân dẫn khởi nhạc khúc tất không thể đi đến tận cùng cái vi diệu của khúc ý. Mỗi nhạc khúc có những câu chuyện lịch sử và văn chương đằng sau chúng. Cần biết để có thêm hứng thú khi thưởng thức nhạc khúc.

(Nguồn: http://www.nhatvannhat.com)


Thư pháp Vương Hy Chi

July 16, 2009

Vương Hi Chi – 王羲之xuất thân từ một một thế gia về Thư pháp với bá phụ: Vương Dực – 王翼, Vương Đạo – 王导, đường huynh: Vương Điềm – 王恬, Vương Hiệp – 王洽.. đều là những người nổi tiếng về Thư pháp. Vương Hi Chi (321 – 379 có thuyết cho rặng 303 – 361), tự là Dật Thiếu – 逸少, hiệu là Đạm Trại – 澹斋, nguyên người gốc ở Lâm Nghi – Lang Da – 琅琊临沂(nay thuộc Sơn Đông), sau chuyển tới Sơn Âm – 山阴(nay thuộc Thiệu Hưng – Chiết Giang), làm quan tới chức Hữu quân tướng quân – 右军将军, Cối Kê nội sử – 会稽内史. Ông là Thư .pháp gia vĩ đại nhất thời Đông Tấn, được người đời sau tôn xưng là Thư Thánh.

Vương Hi Chi năm lên 7, theo học Thư pháp của nữ Thư pháp gia Vệ Thược – 卫铄. Ông lâm mô Vệ thư tới năm 12 tuổi cảm thấy tuy đạt được tinh thần xong vẫn không thỏa ý. Khi được phụ thân truyền dạy Thư pháp luận, ông tự bộc bạch: “ngô dĩ đại cương, tức hữu sở ngộ” (Ta từ đại cương để ngộ được Thư pháp). Thường nghe thầy kể về những tấm gương khổ luyện của lịch đại Thư gia, ông rất hâm mộ Thư pháp của “Thảo Thánh” Trương Chi đời Đông Hán – 东汉「草圣」张芝, liền quyết tâm lấy bài học “lâm trì” của Trương Chi để răn mình học tập. Về sau, ông vượt sông sang bờ bắc đi khắp danh sơn, Thảo thư học theo Trương Chi, Chính thư học theo Chung Diêu, “kiêm nhiếp chúng pháp, bị thành nhất gia – 兼撮众法,备成一家” đạt tới độ “quý việt quần phẩm, cổ kim mạc nhị – 贵越群品,古今莫二” (tinh túy hơn mọi tác phẩm, cổ kim vô song)

Để luyện được Thư pháp, mỗi lần tới một vùng đất, ông đều ra sức tìm tòi bia khắc các đời, tích lũy rất nhiều tư liệu Thư pháp. Trong nhà, trong sân, ngoài cửa, ông đều cho đặt bàn, bày bút, giấy, mực, nghiên, để mỗi khi nghĩ tới một kết cấu đẹp của chữ sẽ lập tức viết ngay lên giấy. Khi tập Thư pháp, ông đều nhắm mắt nghĩ rất lung tới mức quên ăn quên ngủ. So với lưỡng Hán và Tây Tấn, thư phong của Vương Hi Chi nổi bật bởi sự tinh tế, kết cấu biến hóa. Thành tựu lớn nhất của ông là thêm, bớt cổ pháp, biến thư phong chất phác đời Hán Ngụy thành bút pháp tinh diệu, tận thiện tận mỹ. Thảo thư quấn quít khúc chiết, Chính thư thế diệu hình mật, Hành thư khỏe khoắn tự nhiên, tóm lại, ông đưa Thư pháp Hán từ chỗ thực dụng tới chỗ chú trọng kỹ pháp, nhấn mạnh vào tình cảm. Trên thực tế, đó là sự thức tỉnh của nghệ thuật Thư pháp, Thư gia không chỉ phát hiện được vẻ đẹp của Thư pháp mà còn có khả năng biểu đạt được vẻ đẹp của Thư pháp. Thư pháp gia các đời không mấy ai không lâm mô thư thiếp của Vương Hi Chi vì ông được tôn xưng là “thư thánh”. Khải thư của ông như: “Nhạc Nghị luận”, “Hoàng Đình kinh”, “Đông Phương Sóc họa tán” … được “Nam triều thời ấy rất ưa thích”, hiện còn rất nhiều câu truyện đầy mầu sắc truyền kỳ, thậm chí còn trở thành đề tài cho hội họa. Thảo thư của ông được thế nhân tôn là “Thảo chi thánh”. Hiện nay không còn nguyên tích lưu lại nhưng khắc thạch Thư pháp vẫn còn rất nhiều. Tác phẩm của Vương Hi Chi rất phong phú, ngoài “Lan đình tự” còn có các bức nổi tiếng khác như: “Quan nô thiếp – 官奴帖”, “Thập thất thiếp – 十七帖”,”Nhị tạ thiếp – 二谢帖”, “Phụng quất thiếp – 奉枯帖”, “Di mẫu thiếp -姨母帖”, “Khoái tuyết thời tình thiếp – 快雪时晴帖”, “Nhạc Nghị luận – 乐毅论”, “Hoàng Đình Kinh – 黄庭经” …. Đặc điểm nổi bật nhất trong Thư pháp của ông là sự bình hòa, tự nhiên, bút thể uyển chuyển hàm súc, đẹp đẽ mỹ lệ. Người đời sau bình về sự tận thiện tận mỹ trong thư pháp Vương Hi Chi rằng: “Phiêu nhược du vân, kiểu đài kinh xà – 飘若游云,矫苔惊蛇” (Lãng đãng như áng mây xanh trổi nổi, uốn lượn như rêu in vết rắn trườn.”


Khoái tuyết thời tình thiếp

Trong lịch sử, trào lưu học thư pháp Vương Hi Chi đầu tiên xuất hiện vào thời Lương – nam Triều, lần thứ hai là đời Đường. Đường Thái Tông rất tôn sùng Vương Hi Chi, không chỉ thu thập Thư pháp họ Vương mà còn tự mình viết lời bình khen ngợi phần “Tấn thư – Vương Hi Chi truyện”, khi nói về Chung Diêu cho rằng: “Luận kỳ tận mỹ, hoặc hữu sở nghi” (nói là tận mỹ, e rằng còn phải xem xét), về Hiến Chi, cho rằng còn có bệnh khi viết, nói về các Thư gia khác như Tử Vân, Vương Mông, Từ Yển đều cho rằng “danh quá kỳ thực”. Từ đó có thể thấy Đường Thái Tông cho rằng Vương Hữu Quân đã đạt tới chỗ “tận thiện tận mỹ”. Các Thư gia đời sau như Âu Dương Tuân, Ngu Thế Nam, Chử Toại Lượng, Tiết Tắc và Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền đời Đường, Dương Ngưng Thức đời Ngũ Đại, Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Mễ Phất, Sái Tương đời Tống, Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên, Đổng Kỳ Xương đời Minh … đều học tập Vương Hi Chi. Tuy đến đời Thanh, phái bi học đả phá phái Thiếp học nhưng Vương Hi Chi vẫn giữ được vị trí “Thư Thánh”, “Mặc Hoàng”.

Thư pháp của Vương Hi Chi ảnh hưởng tới con cháu của ông. Các con ông như: Huyền Chi – 玄之giỏi Thảo thư, Ngưng Chi – 凝之giỏi Lệ thư, Huy Chi – 徽之 giỏi Chân ,Thảo, Tháo Chi – 操之giỏi Chính, Hành thư, Hoán Chi – 焕之giỏi Thảo thư, Hiến Chi – 献之được xưng là “tiểu thánh”. Hoàng Bá Tư 黄伯思 trong “Đông Quan Từ luận – 东观徐论” cho rằng: “Vương thị Ngưng, Tháo, Huy, Hoán chi tứ tử thư, dữ Tử Kính thư cụ truyền, giai đắc gia phạm, nhi thể các bất đồng. Ngưng Chi đắc kỳ vận, Tháo chi đắc kỳ thể, Huy Chi đắc kỳ thế, Hoán chi đắc kỳ mạo, Hiến Chi đắc kỳ nguyên.” (Bốn con Ngưng, Tháo, Huy, Hoán Chi nhà họ Vương cùng với Tử Kính (Hiến Chi đều được truyền dạy, nắm được gia học, nhưng thể chữ không giống nhau. Ngưng Chi được vận, Tháo Chi được thể, Huy Chi được thế, Hoán Chi được hình, Hiến Chi được gốc.” Hậu nhân họ Vương kéo dài mãi, dòng mạch Thư pháp Vương gia lưu truyền không dứt. Võ Tắc Thiên thích Thư pháp Vương Hi Chi, cháu chín đời của Vương Hi Chi là Vương Phương Khánh đem chân tích Thư pháp 9 đời từ tổ thứ 11, tổ thứ 20 đóng thành 10 quyển dâng lên, gọi là “Vạn Thọ Thông Thiên thiếp”. Thư pháp gia Tề – Nam Triều là Vương Tằng Văn – 王僧虔, Vương Từ – 王慈, Vương Chí – 王志đều là hậu nhân họ Vương. Thích Trí Vĩnh – 释智永là cháu bẩy đời của Vương Hi Chi cũng là một danh gia Thư pháp đời Tùy Đường.

Tuy người đời tôn sùng Vương Hi Chi là “Thư Thánh”, nhưng không phải xây dựng một hình tượng đông cứng mà đó chỉ là một biểu tượng cho sự “tận thiện tận mỹ của nghệ thuật Thư pháp Hán. Sự vật luôn luôn phát triển và tiến lên, Vương Hi Chi đạt tới đỉnh cao của sự tuyệt mỹ trong thời đại của ông và “thánh tượng” đó sẽ luôn chiếu rọi cho Thư gia các đời nối tiếp nhau bước lên đỉnh vinh quang của nghệ thuật.

Vài câu truyện truyền kỳ về Vương Hi Chi

1. Vương Hi Chi nuôi ngỗng không chỉ để thảnh thơi nhàn nhã mà mỗi tư thế của ngỗng khiến ông lĩnh hội được bút thế của Thư pháp, phép tắc vận bút. Một hôm, Vương HI Chi và con là Vương Hiến Chi cưỡi thuyền nhẹ ngắm non nước Thiệu Hưng, tới gần thôn Huyện Tương chợt thấy trên bờ có một đàn ngỗng trắng, lắc đầu, vẫy cánh. Vương Hi Chi xem tới mức xuất thần, bất giác thích thú đàn ngỗng vô cùng, muốn đem về nhà. Ông liền hỏi vị đạo sĩ, mong được mua đàn ngỗng. Đạo sĩ nói: “Nếu Hữu quân đại nhân muốn mua, xin hãy viết hộ cho một cuốn “Hoàng Đình kinh” của Đạo gia!” Vương Hi Chi nóng lòng muốn lấy đàn ngỗng liền nhận lời ngay. Đó chính là câu chuyện “Vương Hi Chi viết chữ đổi ngỗng trắng”.


Hoàng Đình Kinh

2. Năm Vương Hi Chi 20 tuổi, Thái Úy Hi Giám – 郗鉴sai người tới nhà Vương Đạo chọn con rể. Bấy giờ, người ta coi trọng chuyện môn đăng hội đối, Con cháu Vương Đạo nghe Thái Úy tới cầu thân đều vận phục đẹp đẽ, hi vọng được lọt mắt xanh, duy chỉ có Vương Hi Chi tựa như không nghe không biết, nằm trên giường trúc phía đông, một tay ăn bánh nướng, một tay lấy bút viết lên y phục. Sau khi người nhà về, bẩm lại, Hi Giám biết được chàng trai nằm trên giường phía đông là Vương Hi Chi, liền vỗ tay khen ngợi và chọn chàng làm rể! Chuyện đó sau trở thành hai điển cố nổi tiếng “Đông sàng – 东床” và “lệnh thản – 令坦”.

3. Rất nhiều thành ngữ xuất phát từ Vương Hi Chi, như một lần ông viết chữ lên gỗ, rồi đem đi khắc, người thợ dùng đục khắc xuống thấy nét mực thấm vào sâu tới ba phân. Thành ngữ “Nhập mộc tam phân – 入木三分” từ đó ra đời.

4. Một lần, Vương Hi Chi ra phố, thấy một bà cụ bán quạt nan, dù giá bán rất rẻ, nhưng vẫn ít người mua. Vương Hi Chi bèn viết 5 chữ trên mỗi chiếc quạt. Bà cụ không hiểu vì sao, Vương Hi Chi bảo bà rằng: “Cụ chỉ cần nói là chữ do Vương Hi Chi viết, thì mỗi chiếc quạt có thể bán đắt hơn 10 lần.” Bà cụ làm theo lời dặn của ông, quả nhiên quạt nan bán hết không thừa một chiếc. Để kỷ niệm Vương Hi Chi, người đời sau gọi cầu đá mà bà cụ ngồi bán quạt là “Đề Phiến Kiều 题扇桥” (Cầu đề quạt).

5. Tác phẩm nổi tiếng cả đời của Vương Hi Chi là “Lan Đình tập tự – 兰亭集序”, ông viết lúc trung niên.

Thời Đông Tấn, mỗi khi vào mùng ba tháng ba âm lịch, người người đều ra bên sông dạo chơi để tiêu trừ điềm xấu, gọi là “Tu hễ – 修褉”. Mùng ba tháng ba năm Vĩnh Hòa thứ chín永和九年h, Vương Hi Chi và một số văn nhân, tất cả 41 người, cùng đến Lan Đình bên sông để Tu hễ. Mọi người vừa uống rượu vừa làm thơ.

Sau khi thơ làm xong đóng thành một tập gọi là “Lan đình tập – 兰亭集” rồi đề cử Vương Hi Chi viết lời tựa (tự). Vương Hi Chi lúc đó ngà say, lấy bút lông râu chuột, trải giấy tàm trùng, viết chữ. Lời tựa đó chính là bức thư pháp nổi tiếng muôn đời “Lan Đình tập tự兰亭集序”. Thiếp này vốn là bản thảo (bản nháp) gồm 28 hàng, 324 chữ, ghi chép cảnh văn nhân làm thơ. Tác giả nhân khi cao hứng viết ra, tương truyền, khi về nhà viết lại đều không đạt. Trong tác phẩm này có hơn 20 chữ “Chi”, dùng bút pháp khác nhau. Mễ Phất đời Tống tôn xưng là “thiên hạ đệ nhất hành thư”. Về sau Đường Thái Tông Lý Thế Dân say mê “Lan Đình Tập tự”, khi chết đã bắt chôn theo. Các bản còn truyền thế chỉ là mô bản.

vhc-ldtt
魏晋 王羲之 兰亭序 (Ngụy Tấn, Vương Hy Chi, Lan Đình Tự – TLB) >>> Xem bản phóng đại

释文:永和九年,岁在癸丑,暮春之初,会于会稽山阴之兰亭,修禊事也。群贤毕至,少长咸集。此地有崇山 峻岭,茂林修竹;又有清流激湍,映带左右,引以为流觞曲水,列坐其次。虽无丝竹管弦之盛,一觞一咏,亦足以畅叙幽情。是日也,天朗气清,惠风和畅,仰观宇 宙之大,俯察品类之盛,所以游目骋怀,足以极视听之娱,信可乐也。夫人之相与,俯仰一世,或取诸怀抱,晤言一室之内;或因寄所托,放浪形骸之外。虽取舍万 殊,静躁不同,当其欣于所遇,暂得于己,快然自足,不知老之将至。及其所之既倦,情随事迁,感慨系之矣。向之所欣,俯仰之间,已为陈迹,犹不能不以之兴 怀。况修短随化,终期于尽。古人云:“死生亦大矣。”岂不痛哉!每览昔人兴感之由,若合一契,未尝不临文嗟悼,不能喻之于怀。固知一死生为虚诞,齐彭殇为 妄作。后之视今,亦犹今之视昔。悲夫!故列叙时人,录其所述,虽世殊事异,所以兴怀,其致一也。后之览者,亦将有感于斯文。

Lan Đình tập tự

Vĩnh Hoà cửu niên, tuế tại Quý Sửu, mộ xuân chi sơ, hội ư Cối Kê sơn âm chi Lan Ðình, tu hễ sự dã. Quần hiền tất chí, thiếu trưởng hàm tập. Thử địa hữu sùng sơn tuấn lĩnh, mậu lâm tu trúc; hựu hữu thanh lưu kích thoan, ánh đới tả hữu. Dẫn dĩ vi lưu thương khúc thuỷ, liệt toạ kỳ thứ; tuy vô ty trúc quản huyền chi thịnh, nhất thương nhất vịnh, diệc túc dĩ sướng tự u tình. Thị nhật dã, thiên lãng khí thanh, huệ phong hoà sướng; ngưỡng quan vũ trụ chi đại, phủ sát phẩm loại chi thịnh; sở dĩ du mục sính hoài, túc dĩ cực thị thính chi ngu, tín khả lạc dã.

Phù nhân chi tương dữ, phủ ngưỡng nhất thế, hoặc thủ chư hoài bão, ngộ ngôn nhất thất chi nội; hoặc nhân ký sở thác, phóng lãng hình hài chi ngoại. Tuy thú xá vạn thù, tĩnh táo bất đồng; đương kỳ hân ư sở ngộ, tạm đắc ư kỷ, khoái nhiên tự túc, bất tri lão chi tương chí. Nãi kỳ sở chi ký quyện, tình tuỳ sự thiên, cảm khái hệ chi hĩ. Hướng chi sở hân, phủ ngưỡng chi gian, dĩ vi trần tích, do bất năng bất dĩ chi hứng hoài; huống tu đoản tuỳ hoá, chung kỳ ư tận. Cổ nhân vân: “Tử sinh diệc đại hĩ.” Khởi bất thống tai! Mỗi giám tích nhân hứng hoài chi do, nhược hợp nhất khế; vị thường đắc lâm văn ta điệu, bất năng dụ chi ư hoài. Cố tri nhất tử sinh chi hư đản, tề Bành Thương (Bành Tổ, Thương Sinh) chi vọng tác. Hậu chi thị kim, diệc do kim chi thị tích, bi phù!

Cố liệt tự thi nhân, lục kỳ sở thuật, tuy thế thù sự dị, sở dĩ hứng hoài, kỳ trí nhất dã. Hậu chi giám dã, diệc tương hữu hoài ư tư văn.

Bài tựa cho Lan Đình thi tập (Người dịch: Trương Củng)

Năm Kỷ Sửu, Vĩnh Hoà thứ chín, sắp vào cuối xuân; cùng họp nhau nơi Lan Đình, phía bắc núi Cối Kê, soạn lễ trừ tà. Quần hiền già trẻ đều đến. Đất ấy có núi cao non xinh; rừng xanh tốt, trúc vút cao; thêm suối trong cuộn chảy, lấp loáng bóng đôi bờ. Theo dòng nước uốn lượn có thể thả chén rượu đặt lời thơ. Hết thảy đều chia thứ bậc cùng ngồi. Tuy vắng tiếng đàn sáo ca xang, nhưng một chén rượu, một lời ngâm cũng đủ vui mà bày giải khối tình u uẩn. Ngày hôm ấy trời trong mây lành, gió mát ru êm. Trông theo trời, vũ trụ bao la; cúi xem đất, muôn loài tươi tốt. Buông lòng cảm hứng theo đôi mắt dõi trông, cũng đủ thích mắt vui tai. Thật sướng lắm thay.

Phàm người cùng người tương hội chỉ là trong thoáng chốc của cuộc đời; có người khi giao tiếp giữ kín hoài bão bên trong, có người phóng lãng hình hài ký thác lòng mình ra ngoài lời. Khi buông thả, khi nắm giữ; lúc lặng, lúc mau khác biệt muôn vàn. Tuy vậy mà vẫn lấy làm vui, dầu trong chốc lát, chẳng biết tuổi già đang đến. Rồi khi tự thân mòn mỏi, tâm tình theo sự vật đổi thay, khiến lòng đầy cảm khái. Niềm vui giờ đây trong khoảnh khắc bỗng biến thành vết bụi mờ; như thế thì lòng ai không luyến tiếc. Huống chi cuộc đời dài ngắn biến hoá, rồi cũng đến lúc tận chung. Người xưa thường nói, việc tử sinh là việc lớn, há chẳng xót xa ư! Mỗi khi xét đến cảm hứng trong văn chương của người xưa rồi cùng hợp lại, thì lòng ta lại vì lời văn mà trỗi mối u hoài không giải rõ được vì sao. Cố khăng cho sống chết như một là chuyện hư dối, lấy cái thọ của Bành Tổ mà so với cái yểu của Thương Sinh là giả vọng. Đời sau nhìn lại nay cũng như nay nhìn lại xưa, cả đều buồn thay!

Vậy đây theo thứ tự các thi nhân mà chép lại; tuy tuổi tác chẳng đồng, sự việc có khác nhưng lòng hoài cảm thì như nhất. Người sau xem lại, hẳn vì lời thơ mà gợi niềm thương cảm hơn chăng.

Xuất xứ:

Bài tựa này Vương Hy Chi viết cho tập thơ do các bạn ông sáng tác trong một buổi hội thơ ở Lan Đình, núi Cối Kê (Lan Đình là tên một ngôi đình cổ ở Sơn Âm, nay thuộc Triệu Hưng, Chiết Giang) do Vương Hy Chi và anh em danh sĩ Tạ An xây dựng). Buổi hội này tổ chức nhân dịp lễ “hễ”. Lễ “hễ” là lễ trừ tà, tẩy uế gồm có lễ xuân hễ tổ chức vào ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch, và thu hễ tổ chức vào 14 tháng 7 âm lịch (tính theo tây lịch, buổi hội thơ này nhằm vào ngày 22-4-353).

Thuở xưa khi vào cuối xuân khí trời chuyển ấm, người ta thường ra nơi bờ sông, suối làm lễ tẩy uế, tắm rửa – theo tín ngưỡng thì để trừ đi tà khí của mùa đông lạnh khi khí trời ấm lên. Sang đến đời Lục triều thì thì ý nghĩa trừ tà mất đi, buổi lễ trở thành một dịp họp mặt của các văn nhân thi sĩ.

Hôm ấy, Vương Hy Chi cùng với 41 thi khách tham gia buổi hội thơ, tham dự trò chơi thả chén đặt thơ. Trong trò chơi này mọi người sẽ theo thứ tự già trẻ ngồi dọc theo bên bờ suối, những chén rượu được thả trôi xuống từ đầu dòng nước, lần lượt các thi nhân được mời hạ bút sáng tác một bài thơ trước khi cái chén trôi qua trước vị trí của mình. Nếu không xong thì sẽ bị phạt rượu. Chỉ có 26 người được cuộc trong trò chơi này. Và 26 bài thơ đó được tập thành trong 1 tập thơ gọi là “Lan Đình thi tập”. Thi tập này được Vương Hy Chi viết lời tựa bằng một bút pháp tinh xảo của riêng ông theo thể Hành. Và từ đó trở về sau những người luyện thư pháp thường lấy làm mẫu để mô phỏng lối viết của ông và để viết những tấm thiếp tặng cho nhau mà người đời sau thường gọi thủ bút của ông là thiếp Lan Đình.

Nguyên bản thủ bút của Vương Hy Chi giờ đây không còn nữa, tương truyền là vào đời Đường, Đường Thái Tông vì quá mê thư pháp của Vương Hi Chi đã ra lệnh chôn những bức họa thư đó cùng với mình. Đời nay còn lại chỉ là các bản lâm của các Thư gia nổi tiếng. Hình trên là mô bản nổi tiếng (Thần Long bản) của Phùng Thừa Tố (đời Đường Thái Tông).

(Nguồn: http://www.nhatvannhat.com)


Thiên Đàn

July 16, 2009

123

Nếu bạn có dịp đến Bắc Kinh du lịch, thì Trường Thành, Cố Cung và Thiên Đàn là mấy cảnh điểm mà bạn nhất định nên đi thăm quan, bởi vì những kiến trúc này mang tính tiêu biểu cho trình độ tối cao của kiến trúc cổ đại Trung Quốc. Để cầu nguyện cho mưa thuận gió hoà, thiên hạ thái bình, hằng năm, các đời vua Trung Quốc đều tổ chức lễ bái cầu thiên địa nhật nguyệt, sơn hà thần linh, trong đó lễ tế trời là quan trọng nhất. Hiệu của nhà vua Trung Quốc là “Thiên tử”, có nghĩa là “ con nhà trời”, các đời vua Trung Quốc đều với thân phận là “Thiên tử” để thống trị thiên hạ, quản lý quốc gia. Các hoạt động tế trời cũng trở thành đặc quyền của họ, dân chúng không ai được làm theo.

Thiên Đàn (天坛) được xây vào 1420, là nơi cúng thần trời thần đất của các nhà vua thời nhà Minh và nhà Thanh <năm 1368- 1911 công nguyên >. Thiên Đàn ở phía nam Cố Cung nổi tiếng, rộng gấp 5 lần so với Cố cung. Bức tường cuối phía nam Thiên Đàn là hình vuông, tượng trưng cho đất, tường phía bắc hình bán cầu tượng trưng cho trời, kiểu thiết kế này bắt nguồn từ tư tưởng “trời tròn đất vuông” cổ đại Trung Quốc. Thiên Đàn được chia thành nội đàn và ngoại đàn. Các kiến trúc chủ yếu của Thiên Đàn đều tập trung ở hai đầu nam bắc trục giữa trong nội đàn,  đó là Viên Khâu, Hoàng Khung Vũ, điện Kỳ Niên. Viên Khâu là đài đá hình tròn gồm ba tầng, mỗi tầng đều có lan can đá, mặt bằng của Viên khâu hình tròn là trung tâm để nhà vua cử hành lễ tế trời. Lễ tế trời của nhà vua hết sức cầu kỳ, thường diễn ra vào trước lúc bình minh của ngày Đông chí âm lịch <vào khoảng ngày 22 tháng 12>, nhà vua đích thân đến chủ trì lễ tế trời. Khi làm lễ, trước đàn phải treo đèn lồng, bên trong đốt ngọn nến to dài những hơn một mét. Hàng lư hương đặt ở góc đông nam Viên Khâu, những lư hương này chủ yếu dùng để đốt những con vật và vải vóc tế trời. Trong quá trình tế trời, khói hương nghi ngút, nhạc trống rền vang, bầu không khí hết sức trang nghiêm. Hoàng Khung Vũ ở phía bắc Viên Khâu là một cung điện nhỏ một tầng hình tròn, ngày thường ở bên trong đặt các bài vị thần tế trời, xung quanh Hoàng Khung Vũ có một bức tường quây thành hình tròn, đây chính là bức vách hồi âm nổi tiếng. Vách hồi âm này hết sức kỳ diệu, nếu bạn đứng ở một bên, chỉ cần nói nhỏ là ở bên kia có thể nghe rõ mồn một.

Một cụm kiến trúc cúng tế khác của Thiên Đàn là điện Kỳ Niên, đây là điện lớn hình tròn có ba tầng mái, xây trên nền hình tròn ba tầng. Qua chữ có thể hiểu rằng, Kỳ niên điện là nơi để nhà vua mùa hè hằng năm đến cúng cầu cho năm được mùa. Cho nên, kiến trúc của Kỳ Niên điện cũng liên quan tới văn hóa nông nghiệp. Ví dụ, bốn trụ thông thiên trong điện nghe nói tượng trưng cho bốn mùa xuân hạ thu đông; do người cổ đại Trung Quốc coi một ngày có 12 tiếng đồng hồ, cho nên 12 cột ở bên ngoài mái hiên của tầng một tượng trưng cho 12 tiếng đồng hô trong ngày ; 12 cột ở tầng giữa tượng trưng cho 12 tháng trong năm; tổng cộng là 24 cột, tượng trưng cho 24 tiết khí. Ngoài cụm kiến trúc chính là Viên Khâu và Kỳ Niên điện ra, còn có sở Thần lạc là nơi ở của các nhạc công và vũ công, sở sát sinh là nơi nuôi và giết mổ súc vật dùng để tế trời.

Các thợ thời cổ Trung Quốc đã phát huy trí tưởng tượng hết sức phong phú trong quá trình xây dựng Thiên Đàn. Ví dụ, màu sắc của kiến trúc có nhiều sự đột phá. Cung điện của các nhà vua Trung Quốc chủ yếu lợp mái màu vàng, tượng trưng cho quyền nhà vua. Nhưng kiến trúc của Thiên Đàn, các thợ xây dựng lại sử dụng mái ngói xanh lam tượng trưng cho trời, làm nền màu chính của kiến trúc. Như mái tường của vách hồi âm, của Hoàng Khung Vũ và điện Kỳ Niên cũng như hai điện phụ và mái nhà của các khuôn viên đều là lợp mái lưu ly xanh lam. Năm 1998, Thiên Đàn được đưa vào “Danh mục di sản thế giới”. Ủy ban di sản thế giới đánh giá rằng: “là cụm kiến trúc cúng tế cổ đại lớn nhất còn tồn tại của Trung Quốc ngày nay, Thiên Đàn nổi tiếng thế giới bởi bố cục quy hoạch nghiêm chỉnh, kết cấu kiến trúc đặc biệt, trang trí kiến trúc đẹp mắt, không những chiếm địa vị quan trọng trên lịch sử kiến trúc Trung Quốc, cũng là di sản quý giá của nghệ thuật kiến trúc thế giới.”

bocuctd1

bocuctd2

tdtc

vk

vk

vk

vk

vk

hkv

hkv

hkv

hkv

hkv

hkv

kn

kn

kn

kn

Thiên Đàn là đàn lớn nhất trong 4 đàn ở Bắc Kinh. Các đàn còn lại là: Nhật Đàn (日坛) ở phía đông, Địa Đàn (地坛) ở phía bắc, và Nguyệt Đàn (月坛) ở phía tây.
Đầu năm 2005, Thiên Đàn được trải một cuộc trang hoàng bề mặt với chi phí 47 triệu Nhân dân tệ (5,9 triệu đô la Mỹ) để chuẩn bị cho Thế vận hội Bắc Kinh mùa hè năm 2008. Việc sửa sang này đã hoàn tất và sẵn sàng chào đón Thế vận hội.

(Nguồn: http://www.nhatvannhat.com)


Khiết Trà Khứ

July 15, 2009

(Uống Trà Đi)

123

Triệu Châu là một vị Thiền sư danh tiếng thời xưa, học giả mười phương thường đến tham vấn rất đông.
Một hôm, có hai vị tăng mới đến, Triệu Châu chỉ một vị hỏi: – Thượng tọa từng đến đây chưa?
Vị tăng thưa: – Chưa từng đến.
Triệu Châu bảo: – Uống trà đi!
Lại hỏi vị tăng khác: – Từng đến đây chưa?
Vị tăng ấy thưa: – Đã từng đến.
Triệu Châu bảo: – Uống trà đi!
Viện chủ bạch: – Người chưa từng đến dạy uống trà còn có thể được, người đã từng đến vì sao cũng dạy uống trà?
Triệu Châu gọi: – Viện chủ!
Viện chủ đáp: – Dạ!
Triệu Châu bảo: – Uống trà đi!
Từ đấy, công án “Trà Triệu Châu” truyền khắp thiên hạ.
– Còn bạn, bạn đã từng uống trà chưa?
Dù đã từng uống trà hay chưa, thì cũng hãy: Uống trà đi!

(Nguồn: http://www.nhatvannhat.com)